Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Thời gian đọc: 0
Phần 3 - 5000 Năm Lịch Sử Trung Quốc

5000 NĂM LỊCH SỬ TRUNG QUỐC

Tác giả: Hồ Ngật

CHƯƠNG V. LIÊU - TỐNG - HẠ - KIM

LƯU VŨ TÍCH DẠO CHƠI HUYỀN ĐÔ QUÁN

Việc Vương Thúc Văn tiến hành công cuộc cải cách

đã khiến cho một số hoạn quan đem lòng ghen ghét,

và không ít đại thần cho rằng, địa vị ông thấp kém,

tính cách lại độc đoán, nên đã tỏ ra bất mãn đối

với ông. Đến khi Đường Hiến Tông lên ngôi kế vị,

mọi ngươi đều công kích Vương Thúc Văn, tám vị quan

xưa nay vẫn ủng hộ sự cải cách của ông đều bị xem

là đồng đảng. Vua hạ chiếu thư, đồng loạt giáng

chức Tể tướng Vi Chấp Nghị cùng tám vị quan khác,

và phái họ đến làm quan Tư mã ở những địa phương xa

xôi. Lịch sử gọi Vương Thúc Văn, Vương Phi cùng

1

những người này là “Nhị Vương bát Tư mã”.

Trong “Bát Tư mã” có hai vị học giả rất nổi tiếng,

đó chính là Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích. Liễu

Tông Nguyên chuyên viết tản văn, Lưu Vũ Tích lại

giỏi làm thơ, cả hai đều là bạn tốt của nhau. Khi

đấy, Liễu Tông Nguyên bị phái đến Vĩnh Châu (Linh

Lăng, Hồ Nam ngày nay); Lưu Vũ Tích bị phái đến

Lãng Châu (Thường Đức, Hồ Nam ngày nay). Vĩnh Châu

và Lãng Châu đều ở phía Nam, là một nơi vô cùng

hoang vắng; nếu người được phái đi không hiểu

chuyện, không thông suốt nơi đấy thì khó mà vượt

qua. Nhưng họ đều là những người có đạo đức, tin

vào sự chính trực nơi bản thân mình, dù có thất bại

cũng không nản lòng. Đến nơi nhậm chức, ngoài việc

công ra, mọi người cũng thường du sơn ngoạn thủy,

2

sáng tác thơ văn. Những tác phẩm của họ thường bày

tỏ hoài bão lớn lao và phản ánh được sự thống khổ

của nhân dân. Tác phẩm “Lời người bắt rắn” của Liễu

Tông Nguyên chính là câu chuyện ở Vĩnh Châu.

Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích cùng ở phía Nam

được 10 năm. Mãi thời gian sau, một số đại thần

chính trực ở triều đình mới chợt nhớ đến họ. Những

đại thần này tiếc khi thấy người có tài năng như họ

lại bị đày đến nơi xa xôi. Mọi người bèn thượng

tấu lên Hiến Tông, mong vua triệu hai ông về lại

Trường An, phong cho họ chức quan ở kinh thành nữa,

phần lớn các quan trong triều đều có thành kiến

với ông, nên trong lòng ông cảm thấy không được

thoải mái.

Ở kinh thành có một đạo quán rất nổi tiếng tên là

3

Huyền Đô quán, trong quán có đạo sĩ trồng rất

nhiều cây đào ở sân. Thời điểm đấy đúng vào mùa

xuân, những cây đào trong đạo quán nở hoa nên đã

thu hút rất nhiều du khách. Một vài người bạn cũ rủ

Lưu Vũ Tích đến Huyền Đô quán ngắm hoa, ông cũng

muốn thư giãn, nên đã đi cùng với bạn bè. Lưu Vũ

Tích bị giáng chức và đày đi xa 10 năm, khi về đến

Trường An, nhìn thấy Huyền Đô quán đã trồng rất

nhiều cây đào, trong lòng ông bỗng trào dâng cảm

xúc. Khi trở về, ông sáng tác bài thơ “Tự Lang Châu

chí kinh hí tặng khán hoa chư quân tử”:

“Tử mạch hồng trần phất diện lai

Vô nhân bất đạo khán hoa hồi Huyền Đô quán lý đào

thiên thụ Tận thị Lưu lang khứ hậu tài.”

X: Từ Lang Châu đến kinh đô đùa tặng các vị quân

4

tử xem hoa

Đường tía xôn xao lớp bụi hồng Người nào cũng nói

ngắm hoa xong Hoa đào nghìn cội Huyền Đô quán Tự

vắng chàng Lưu thảy mới trồng

Ông vốn đã nổi danh về tài làm thơ, nên bài thơ

này nhanh chóng được truyền khắp thành Trường An.

Một số đại thần vốn không bằng lòng với việc triệu

ông về cung, khi đọc thơ ông, họ cũng phải suy xét

xem bài thơ ấy có ẩn ý gì? Có người nói thơ ông tuy

tả hoa đào, nhưng thực tế là châm biếm những viên

quan mới được đề bạt.

Chính vì vậy, Lưu Vũ Tích đã tự chuốc lấy phiền

phức, Đường Hiến Tông vô cùng bất mãn với ông,

những người muốn giữ ông lại kinh thành, cũng không

tiện nói lời nào nữa. Ông lại bị phái đến Bá Châu

5

(thành phố Tuân Nghĩa, Quý Châu ngày nay) làm Thứ

sử. Chức Thứ sử cao hơn Tư mã một bậc, nên xem như

ông được thăng chức. Nhưng vùng Bá Châu lại xa xôi

hẻo lánh hơn cả Lãng Châu, một vùng đất thưa thớt

bóng người.

Ông còn có người mẹ già đã hơn 80 tuổi, bà rất cần

người hầu hạ. Nếu bà theo ông đến Bá Châu, e rằng

tuổi đã cao, bà sẽ không chịu nổi đoạn đường dài.

Điều này khiến ông cảm thấy thật khó xử.

Khi đấy, triều đình lại phong cho Liễu Tông Nguyên

làm Thứ sử Liễu Châu. Liễu Tông Nguyên biết khó

khăn của Lưu Vũ Tích, nên quyết tâm giúp đỡ bạn

mình. Ông thức thâu đêm suốt sáng để viết tấu

chương, khẩn cầu vua hóan đổi chức quan của hai

người, để ông thay bạn đến Bá Châu. Liễu Tông

6

Nguyên đối đãi với bạn chân thành khiến nhiều người

thật sự cảm động.

Về sau, nhờ do đại thần Bùi Độ nói những lời tốt

đẹp trước mặt Đường Hiến Tông, nên vua mới đồng ý

để Lưu Vũ Tích làm Thứ sử Liên Châu (huyện Liên,

Quảng Đông ngày nay). Sau đó, ông lại được điều đến

rất nhiều nơi. Trải qua 14 năm, khi Bùi Độ làm đến

chức Tể tướng mới triệu ông về Trường An.

Lưu Vũ Tích trở về kinh thành vào lúc cuối xuân.

Ông nhớ đến hoa đào trong Huyền Đô quán, nên rất

muốn quay trở về nơi cũ để du ngoạn. Khi đến nơi,

ông mới biết vị đạo sĩ trồng hoa đào năm xua đã qua

đời, vườn cây không có ai chăm sóc, cây bị đốn,

cây thì khô chết, khắp nơi mọc đầy cỏ dại trông rất

thê lương. Ông nhớ lại cảnh tượng hoa đào nở rộ

7

năm xưa, lại liên tưởng đến những kẻ hoạn quan

quyền quý hay đả kích mình nay đều thất thế, trong

khi ông vẫn ngoan cường duy trì kiến giải của mình.

Nghĩ đến đây, ông làm một bài thơ để bày tỏ lòng

cảm khái của mình.

“Bách mẫu đình trung bán thị đài Đào hoa tịnh tận

thái hoa khai Chủng hoa đạo sĩ quy hà sở? Tiền độ

Lưu lang kim hựu lai.”

(Vườn xưa trăm mẫu nữa rêu đầy Đào hết, hoa rau

lại đến thay Đạo sĩ trồng đào đâu chẳng thấy? Chàng

Lưu năm trước lại về đây.)

Một số đại thần biết được bài thơ mới của Lưu Vũ

Tích, liền cho rằng ông lại muốn gây chuyện. Họ có

vẻ không bằng lòng nên đã nói xấu ông trước mặt

vua. Ba năm sau, Đường Hiến Tông lại điều ông đi

8

làm Thứ sử ở nơi xa.

BẠCH CƯ DỊ ĐẾN TRƯỜNG AN

Sau khi Đường Hiến Tông lên ngôi kế vị, ông đã

tiến hành một số cải cách chính trị, trọng dụng

những đại thần như Lý Giáng làm Tể tướng. Nhưng vua

vẫn một mực tin tưởng vào hoạn quan, khi thảo phạt

phiên trấn, ông đã phong cho một hoạn quan giữ vai

trò thống soái. Việc này đã gặp phải sự phản đối

của một số đại thần, người phản đối kịch liệt nhất

chính là Bạch Cư Dị.

Bạch Cư Dị là nhà thơ rất nổi tiếng vào thời

Đường, ông là người Hạ Quê (phía Đông Bắc Vị Nam,

Thiểm Tây ngày nay). Từ nhỏ, Bạch Cư Dị đã tỏ ra

thông minh lanh lợi, khi mới sanh ra được 6 – 7

tháng, ông đã có thể phân biệt được hai chữ “Chi”

9

và “Vô”; đến năm 6 tuổi, ông bắt đầu học làm thơ.

Năm ông 16 tuổi, cha của ông là Bạch Quý Canh, làm

quan ở Từ Châu, đã cho ông đến kinh thành Trường An

gặp gỡ mọi người, kết giao với nhiều danh sĩ.

Khi đấy, xảy ra cuộc phản loạn Chu Tỷ, tình hình

10

Hướng dẫn đọc sách: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát