Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Thời gian đọc: 0
Hạt Nắng Bồ Đề

HẠT NẮNG BỒ ĐỀ

Nhà xuất bản Lao động

175 Giảng Võ - Đống Đa - Hà Nội

Tel: (024) 3851 5380

Fax: (024) 3851 5381

Website: www.nxblaodong.com.vn

Công ty Cổ phần Sách Thái Hà

119 C5 Tô Hiệu - Cầu Giấy - Hà Nội

Tel: (024) 3793 0480

Fax: (024) 6287 3238

Website: www.thaihabooks.com

Chịu trách nhiệm xuất bản: Giám đốc - Tổng biên

tập Võ Thị Kim Thanh

Biên tập: Lê Thị Hằng

Trình bày: Tuấn Minh

1

Sửa bản in: Anh Tú

Thiết kế bìa: Thái Hiền

HẠT NẮNG BỒ ĐỀ

Copyright © 2017 Văn Công Tuấn

Cuốn sách được xuất bản theo hợp đồng bản quyền

giữa tác giả và Công ty Cổ phần Sách Thái Hà.

Không phần nào trong cuốn sách này được sao chép

hoặc chuyển sang bất cứ dạng thức hoặc phương tiện

nào, dù là điện tử, in ấn, ghi âm hay bất cứ hệ

thống phục hồi và lưu trữ thông tin nào nếu không

có sự cho phép bằng văn bản của Công ty Cổ phần

Sách Thái Hà.

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia

Việt Nam

Văn Công Tuấn

2

Hạt nắng Bồ Đề / Văn Công Tuấn. - H. : Lao động ;

Công ty Sách Thái Hà, 2017. - 383tr. ; 24cm. - (Tủ

sách V-Buddhism)

ISBN 9786045990551

Đạo Phật 2. Đời sống tâm linh 294.3444 - dc23

LDF0154p-CIP

In 2.000 cuốn, khổ 15.5 x 24cm. In tại Công ty Cổ

phần In và DVTM Phúc An, địa chỉ: Lô B2-2-6, khu CN

Nam Thăng Long, P. Liên Mạc, Q. Bắc Từ Liêm, Tp Hà

Nội. Số đăng kí KHXB: 4137-2017/CXBIPH/15-263/LĐ.

Quyết định xuất bản số: 1426/QĐ-NXBLĐ, cấp ngày

22/12/2017. In xong nộp lưu chiểu năm 2018.

3 / HẠT NẮNG BỒ ĐỀ

Văn Công Tuấn

HẠT NẮNG BỒ ĐỀ

3

Lời giới thiệu

Thích Phước An

Đức Phật Trong Ta & Đức Phật Giữa Chúng Ta (Nhân

đọc Hạt Nắng Bồ Đề)

Nguyễn Hiền-Đức

Lòi giói thi¼u

flích Phư&c An

Đúc Ph¼t trong ta & Đúc Ph¼t giua chúng ta (Nhân

đoc Hat nang Bo Đe)

Nguyen Hien-Đúc

Kính dâng Sư Bà thượng DIỆU hạ TÂft, ngưỡng nguyện

Sư Bà Pháp Thân Thường Thanh Tịnh

(Nguyên Đạo – Văn Công Tuấn)

Mục lục

Lời giới thiệu 9

4

Lời thưa 19

Lời cảm ơn 25

29

1. Đọc Hoa Nghiêm dưới chân tháp Hoa Nghiêm 48

65

4. Duyên 101

5. Bát sữa Sujata 117

6. Cõi tịnh 131

7.

9. Trên đỉnh Dungeshwari và Pico de Bandama

143

160

188

Phụ lục: Một vài nội dung trụ đá, bia ký khác 223

11. Bò ơi, cứ ăn cỏ! 227

5

12. Nghe đâu đó quanh đây âm hưởng của Tagore 241

269

14. Chuyện ba con khỉ của Thánh Gandhi 287

15. Dư âm 305

315

9 / HẠT NẮNG BỒ ĐỀLỜI GIỚI THIỆU

VVào khoảng đầu năm 1990 hay 1991 gì đó của thế

kỷ trước, tôi gặp một vị thầy cũng ở tại đại học

Vạn Hạnh trước

năm 1975. Sau khi nhắc đến những người thân mà bây

giờ đã ly tán khắp nơi trên thế giới, khi hỏi đến

Văn Công Tuấn thì thầy đã trả lời một cách buồn bã

là, “Bây giờ Văn Công Tuấn không còn như hồi ở Vạn

Hạnh nữa.” Tôi rất đỗi ngạc nhiên và cứ thắc mắc

hoài trong đầu là, một người có tâm hồn rất đặc

6

biệt như Văn Công Tuấn lại có thể quên cái quá khứ

một thời ở Vạn Hạnh như vậy sao?

Rồi mới cuối năm ngoái đây, bất ngờ tôi gặp được

trang web có tên là Quênhà của Nguyên Đạo Văn Công

Tuấn. Trong trang web này, Văn Công Tuấn đã để ra

một trang đặc biệt có tên là Chốn hoa viên nhằm

đăng lại các bài viết của những người thân của Vạn

Hạnh năm xưa như Bùi Giáng, Tuệ Sỹ, Hoài Khanh,

Chơn Nguyên và cả tôi nữa. Vậy là những thắc mắc

cũng như thất vọng về Văn Công Tuấn hơn hai thập

niên sau mới được hoàn toàn giải tỏa.

Cảm động nhất đối với tôi là hai câu thơ của Bùi

Giáng mà anh đã trang trọng đặt ở đầu trang Quê nhà

của mình:

Sẽ đi cùng bước chân mùa

7

Bóng vang sầu cũ tháp chùa rộng thênh

Sở dĩ tôi nói cảm động là vì hồi năm 1974, tôi có

viết được một tùy bút đăng trên bán nguyệt san Thời

tập, một tập san văn nghệ do nhà thơ Viên Linh chủ

trương rất nổi tiếng thời đó. Tùy bút đó có tên là

Tuổi thơ nghe cọp rống, và tôi đã trang trọng đặt

hai câu thơ của Bùi Giáng trên bài viết. Qua hai

câu thơ đó, tôi muốn nói lên tình yêu nồng nàn đối

với ngôi chùa đã in đậm trong ký ức tuổi thơ của

tôi.

Nhưng ngôi chùa trong ký ức của tuổi thơ tôi có

lẽ, tôi nghĩ, cũng giống như Kim Các Tự (Kinkakuji)

của văn hào Nhật Yukio ftishima. ftizaguchi, nhân

vật chính của tác phẩm Kim Các Tự, mặc dù suốt cả

tuổi thơ cứ mơ mộng làm sao đến cho được Kim Các Tự

8

như là biểu tượng cho cái đẹp vĩnh cửu trên cuộc

đời này, nhưng khi người cha đích thân dẫn

ftizaguchi đến Kim Các Tự thì ftizaguchi lại thất

vọng vô cùng, vì theo ftizaguchi, “Có lẽ nào cái

đẹp lại là một vật không đẹp đẽ như thế này sao?”

Nhưng khi từ giã Kim Các Tự trở về quê nhà thì cái

đẹp của Kim Các Tự lại vẫn tiếp tục âm thầm ám ảnh

tâm hồn ftizaguchi có lẽ còn mãnh liệt hơn trước

khi được nhìn thấy Kim Các Tự thật.

Ngôi chùa của tuổi thơ tôi cũng vậy, nghĩa là ngôi

chùa vẫn đứng đó không có gì thay đổi nhưng mỗi

lần về lại, tôi thấy ngôi chùa hoàn toàn khác với

ngôi chùa mà tuổi thơ tôi đã từng sống và ám ảnh

trên bước đường tha phương. Bởi thế cho nên, hễ khi

nào ngôi chùa nửa hư nửa thực của tuổi thơ còn

9

sống đậm đà trong ký ức của tôi thì hai câu thơ

cũng nửa hư nửa thực của Bùi Giáng vẫn còn tiếp tục

đeo bám tôi suốt cả cuộc đời.

Sở dĩ tôi có hơi lạc đề một chút là vì chỉ muốn

nhấn mạnh rằng, thế hệ những người trẻ tuổi của tôi

và Văn Công Tuấn

đều đã được nuôi dưỡng từ cõi thơ bát ngát và

phiêu bồng ấy của Bùi Giáng. Riêng tôi và Văn Công

Tuấn còn may mắn hơn nữa là được sống gần gũi với

Bùi Giáng trong một thời gian tương đối dài tại đại

học Vạn Hạnh danh tiếng năm xưa.

Nước Đức, nơi Văn Công Tuấn đã sống gần 40 năm

nay, là quê hương của nhiều triết gia, văn hào và

thi nhân vốn không xa lạ gì với những người trẻ

tuổi trước năm 1975 như Nietzsche hay Heidegger

10

chẳng hạn. Nhưng ở đây, tôi chỉ đề cập đến văn hào

Hermann Hesse, người đoạt giải thưởng Nobel Văn

chương năm 1946. ftặc dù tác phẩm của Hermann Hesse

được dịch sang tiếng Việt rất nhiều, ví dụ như Đôi

bạn chân tình, Tuổi trẻ và cô đơn v.v. nhưng ảnh

hưởng nhất vẫn là Câu chuyện dòng sông được Phùng

Khánh tức Ni trưởng Trí Hải và người em là Phùng

Thăng dịch.

Vì sao Câu chuyện dòng sông của văn hào Hermann

Hesse lại hấp dẫn những người trẻ tuổi thời đó đến

như vậy?

Trong Lời giới thiệu của nhà xuất bản Lá Bối (theo

chỗ tôi biết thì là do Phạm Công Thiện viết) có

trích một câu thơ của Hermann Hesse:

“Dù bị đau đớn quằn quại tôi vẫn tha thiết yêu

11

thương trần gian điên dại này.”

Thế là đã rõ, Hermann Hesse khuyên những người trẻ

tuổi đừng sợ đau khổ, vì chính nhờ đau khổ mà

người thanh niên trẻ tuổi Siddhartha trong tác phẩm

mới can đảm vứt bỏ tất cả, kể cả giai cấp Bà La

ftôn quý tộc của mình, để lên đường đi tìm kiếm ý

nghĩa cho đời mình trong cô độc. “Đó là câu chuyện

của mỗi người trong chúng ta,” đúng như Lời giới

thiệu mà nhà xuất bản đã viết.

Cách đây mấy tháng, tôi được Văn Công Tuấn báo

trước là sẽ gửi tặng một tác phẩm mà anh vừa xuất

bản tại Việt Nam, trong đó có bài anh viết về tôi.

Khi nhận được Cổ thụ lặng bóng soi, tôi mở ra đọc

phần ftục lục trước, không phải để tìm bài viết về

tôi mà xem thử anh có viết gì về văn hào Hermann

12

Hesse không? Văn hào mà một thời tuổi trẻ tôi và

anh đã say mê đọc.

Tôi quá vui, chẳng những anh đã viết về Hermann

Hesse mà còn viết rất dài nữa.

Trong bài, Văn Công Tuấn cho biết là khi được định

cư tại Đức thì anh đã nghĩ ngay đến việc đi thăm

nơi ở của Hermann Hesse. Vậy là, tôi tự nhủ, cái

quá khứ của thời tuổi trẻ ở đại học Vạn Hạnh vẫn âm

thầm tác động và nuôi dưỡng tâm hồn anh, dù anh

sống ở chân trời góc bể nào.

Và đây là câu của Hermann Hesse phát biểu về Phật

giáo và triết lý Đông phương được Văn Công Tuấn

dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

“Trong nhiều năm qua, tôi đã tin rằng, trí tuệ của

Âu châu đã suy đồi và đang có nhu cầu quay về cội

13

nguồn châu Á. Tôi đã nhiều năm ngưỡng mộ Đức Phật

và nền văn hóa Ấn Độ mà từ thời trai trẻ tôi đã

từng đọc được. Rồi sau này, tôi còn thấy gần hơn

với tư tưởng của Lão Tử và những hiền triết Trung

Hoa. Với những suy tư và nghiên cứu này, chuyến du

hành Ấn Độ của tôi chỉ là một bổ sung nhỏ bé và là

những minh họa thêm vào.” (Cổ thụ lặng bóng soi,

tr. 225)

Theo Văn Công Tuấn, Hermann Hesse đã viết đoạn

trên trong một lá thư gửi cho người bạn vào năm

1919.Vậy là đúng một thế kỷ đã trôi qua. Nếu cuối

thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tư tưởng Phật giáo chỉ

giới hạn nơi những triết gia vĩ đại như

Schopenhauer, Nietzsche của Đức hay Lev Tolstoy của

Nga v.v. thì ngày nay đã hoàn toàn khác. Theo Văn

14

Công Tuấn ghi lại trong bài viết:

“Cụ Hesse của chúng ta đâu ngờ rằng, ngày nay gần

nhà cụ, một tu viện Phật giáo có tên là Viên Đức đã

được dựng lên” và “đã có rất nhiều tu sĩ người Đức

xuất gia theo nhiều truyền thống khác nhau.”

Bởi vậy, chúng ta cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên

khi đọc những dòng sau đây của Văn Công Tuấn - một

đứa con của châu Á nhưng lại được học hỏi và

trưởng thành từ nền văn hóa Tây phương khi đến Ấn

Độ, quê hương của Đức Phật, đã hãnh diện mà thốt

lên rằng:

“Ngài đến gần tôi và còn dạy cho tôi rằng, tôi là

một con người tự do và có chủ quyền. Ngài giúp tôi

hun đúc một tinh thần tự giác vắng bóng tất cả mọi

mệnh lệnh, mọi giáo điều, mọi sức ép. Không ai có

15

thể sai khiến tôi được. Ngược lại, tôi cũng không

cầu xin hay xúi sử thần linh nào phục vụ cho những

toan tính, những ước muốn nhỏ nhen của tôi. Tôi,

con người tự do và tự chủ. Tôi chỉ cần biết thắp

đuốc lên là thấy rõ đường đi tới.” (Hạt nắng Bồ Đề)

Về vấn đề “ftọi người sinh ra đều bình đẳng,” có

lẽ nhân loại không phải đợi đến ngày 4 tháng Bảy

năm 1776 tức ngày Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ ra đời

hay cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 thì mới biết “mọi

người sinh ra đều bình đẳng,” mà điều ấy đã được

Đức Phật công bố từ hơn 25 thế kỷ trước.

Tác giả Hạt nắng Bồ Đề viết:

“Đó là lần đầu tiên trong lịch sử loài người có

bậc đạo sư dám nói ra một giáo pháp bình đẳng không

16

phân biệt nam hay nữ (như Long Nữ chỉ trong một

khoảnh khắc đã thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác),

một pháp mầu vi diệu không phân biệt kẻ bần cùng

hay người quý tộc. Ai ai cũng có Phật tánh, ai ai

cũng có khả năng thành Phật. Tính bình đẳng ấy cho

mãi đến hôm nay trong thế kỷ XXI này vẫn là một

điều khó hiểu cho nhiều học thuyết khác.”

Chính vì thế nên khi đến được quê hương của Đức

Phật, Văn Công Tuấn đã vượt nhiều trở ngại với mong

ước lên được đỉnh núi Linh Thứu (nơi mà Đức Phật

đã tuyên thuyết những bộ kinh Đại thừa nổi tiếng

như Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bát Niết Bàn, Kim Quang

ftinh v.v.) trước khi mặt trời mọc. Khi đứng nhìn

mặt trời mọc trên đỉnh núi Linh Thứu, anh đã cảm

khái hay nói đúng hơn là trút hết tâm sự của mình

17

đối với giáo pháp vĩ đại của Đức Phật:

“Núi non vẫn nằm đó, cây cỏ còn đó, mỏm đá hình

chim thứu vẫn đứng đó. Đã bao nhiêu lần mặt trời

từng mọc lên, đã chiếu sáng ngọn núi thiêng này sau

những đêm tối? Ai đếm cho hết? Ai cất công ghi lại

cho kham? Nhưng có một điều tôi đoan chắc: mặt

trời kia chưa bao giờ ngưng tỏa sáng trên đỉnh núi

Thứu này. Từ mấy ngàn năm nay, mặt trời vẫn mọc và

tỏa sáng như hôm nay, như lúc chúng tôi có mặt ở

đây. Và mỗi ngày, mỗi ngày đều đặn như vậy. Không

hề ngưng đọng. Phải chăng, cũng chính nhờ vào những

nhiên liệu này mà bánh xe Pháp cứ quay, quay từ

ngày ấy của hơn hai ngàn năm trăm năm trước đến hôm

nay và sẽ quay đến cả tận mãi ngàn sau.”

Nhưng Văn Công Tuấn đến Ấn Độ không phải là khách

18

tham quan, cũng không phải để “ghi chép lịch sử hay

mô tả Phật tích” mà anh đi như một Phật tử, một

hành giả. Hành trang của anh chỉ có một bộ kinh Hoa

Nghiêm. Bộ kinh mà theo truyền thuyết, sau khi

thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề, Đức Phật đã ngồi

trong thiền định để giảng kinh này cho các vị Đại

Bồ Tát. Tác giả Hạt nắng Bồ Đề trong thời gian trì

tụng kinh dưới bảo tháp Hoa Nghiêm ở Bồ Đề Đạo

Tràng có than rằng kinh Hoa Nghiêm khó hiểu quá.

ftặc dù vậy, khi đọc được câu ngắn gọn sau đây, tôi

đã nghĩ rằng anh đã đến được cánh cửa của Pháp

Giới Hoa Nghiêm: “Phải mượn thêm năng lượng của vũ

trụ quanh mình, như vậy may ra có thể hiểu được đôi

chút.”

Đúng vậy, mỗi lần đọc kinh Hoa Nghiêm, nhất là

19

phẩm Nhập Pháp Giới, tôi có cảm giác như đang nghe

được âm thanh hàng ngàn thác nước từ Hy ftã Lạp Sơn

ào ạt đổ xuống.

Có lẽ, chỉ có một dân tộc được sinh ra dưới ngọn

núi cao nhất thế giới này mới đầy đủ năng lượng của

đất trời để sáng tạo ra được một thứ ngôn ngữ lạ

lùng như vậy.

Và cũng chính vì nằm dưới chân Hy ftã Lạp Sơn nên

không chỉ trong quá khứ đã sanh ra được bậc Trí Giả

Trầm Lặng Của Dòng Sakya mà ngay cả trong thời

hiện đại ở đầu thế kỷ XX, Ấn Độ cũng đã cống hiến

cho nhân loại nhiều bậc trí giả vĩ đại khác nữa, mà

nổi bậc nhất là ftahatma Gandhi và thi hào

Rabindranath Tagore cũng được tác giả Hạt nắng Bồ

Đề kính cẩn ghi lại trong tác phẩm này.

20

Tôi nghĩ tác phẩm này với lối văn giản dị, dễ hiểu

nhưng mang nhiều nét cá biệt và rất đặc sắc, sẽ

giúp ích rất thiết thực

cho độc giả. Người đọc chắc chắn sẽ nhận ra được

Đức Phật và đạo Phật cần thiết như thế nào, điều mà

tác giả muốn gởi gắm đến cho họ trong một thế giới

đầy biến động hiện nay.

Xin được trân trọng giới thiệu đến toàn thể Phật

tử và bạn đọc xa gần với cầu mong rằng, Hạt nắng Bồ

Đề sẽ luôn luôn thắp sáng mãi trong tâm hồn của

mỗi người chúng ta.

Nha Trang, mùa hạ 2017

Thích Phước An

21

Hướng dẫn đọc sách: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát